CHỒNG MẤT TÍCH BAO LÂU ĐƯỢC LY HÔN ĐƠN PHƯƠNG?
Hiện nay, có nhiều nguyên nhân dẫn đến ly hôn, từ mâu thuẫn trong cuộc sống, bất đồng quan điểm đến sự xa cách kéo dài. Trong một số trường hợp, ly hôn xảy ra vì một bên đã rời đi nhiều năm, mất liên lạc hoàn toàn, khiến hôn nhân không còn ý nghĩa. Khi đó, ly hôn được xem như một giải pháp để chấm dứt tình trạng bế tắc. Vậy, nếu chồng mất tích, sau bao lâu vợ có thể đơn phương ly hôn?
1. Ly hôn đơn phương là gì?
Ly hôn đơn phương (hay còn gọi là ly hôn theo yêu cầu của một bên) là ly hôn theo ý chí của một bên vợ hoặc chồng (mà bên còn lại không đồng ý) yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng.
2. Chồng mất tích bao lâu thì được ly hôn đơn phương?
a. Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Dân sự 2015
Điều 68. Tuyên bố mất tích
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
- Luật Hôn nhân & Gia đình 2014
Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
b. Phân tích và kết luận
Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì vợ/chồng có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó mất tích.
Sau khi Tòa ra quyết định tuyên bố một người mất tích, vợ/chồng của người đó có yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Như vậy, khi vợ hoặc chồng đã bỏ đi biệt tích từ lâu, không còn liên lạc được nữa dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc; và vợ/chồng muốn ly hôn thì bắt buộc phải thực hiện các việc làm sau:
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ/chồng của mình mất tích (nếu đảm bảo đủ yêu cầu về thời gian mất tích là 02 năm trở lên, áp dụng các biện pháp cần thiết để tìm kiếm…);
- Yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với người đã bị tuyên bố mất tích.
Nếu bạn cần hiểu rõ và cụ thể hơn về nội dung này, bạn có thể gửi email, điện thoại
Bài Viết Nhiều Người Xem

Tin tức liên quan
CHỒNG CŨ GIẤU GIẤY TỜ NHÀ ĐẤT, LÀM SAO ĐỂ YÊU CẦU CHIA TÀI SẢN SAU KHI LY HÔN?
*Bạn đọc hỏi: Chị Trương Mỹ H. trú tại Điện Bàn hỏi: Tôi và chồng cũ kết hôn vào tháng 6/2015, ly hôn vào tháng 10/2024, khi thực hiện thủ tục ly hôn tại Tòa án, chúng tôi chỉ yêu cầu Tòa giải quyết về quan hệ hôn nhân và con cái, ngoài ra, không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản chung. Thời gian đầu sau ly hôn, chồng cũ vẫn đều đặn chuyển tiền cấp dưỡng để tôi nuôi hai con, nhưng từ đầu năm 2025 đến nay, tôi đã nhiều lần liên hệ yêu cầu chuyển tiền cấp dưỡng nhưng chồng cũ thường xuyên hứa hẹn mà không chuyển tiền. Trong quá trình chung sống, chúng tôi đã dành dụm mua đất và xây được một căn nhà 03 tầng vào năm 2020, giấy tờ nhà đất đứng tên hai vợ chồng. Sau ly hôn, chồng cũ vẫn sống tại căn nhà này, tôi và các con dọn về nhà ngoại sống. Để đảm bảo quyền lợi của mình và các con, tôi mong muốn được phân chia tài sản là căn nhà chung này, tuy nhiên tôi hiện không giữ giấy tờ nào liên quan đến tài sản chung, tôi có yêu cầu chồng cũ cung cấp nhưng chồng cũ không đồng ý. Xin hỏi Luật sư, tôi có thể yêu cầu Tòa án chia tài sản chung là căn nhà này khi tôi không giữ giấy tờ đất không?
CÓ ĐƯỢC LẬP THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN TRƯỚC KHI KẾT HÔN?
(LSVN) - Tôi sắp kết hôn và được khuyên là nên ký thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn để tránh rắc rối về sau, nếu chẳng may có mâu thuẫn. Tôi băn khoăn không biết như vậy có được pháp luật công nhận không, có cần công chứng hay không, và sau khi kết hôn có thể thay đổi nội dung thỏa thuận đó không? Chị Lan trú tại TP. Hồ Chí Minh hỏi.
ĐÃ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Ở NƯỚC NGOÀI, CÓ PHẢI ĐĂNG KÝ KẾT HÔN LẠI Ở VIỆT NAM KHÔNG?
*Bạn đọc hỏi: chị Phương, trú tại H.Hòa Vang (TP Đà Nẵng), hỏi: Tôi và chồng hiện đang sinh sinh sống tại Mỹ, tôi có quốc tịch Việt Nam, chồng tôi có quốc tịch Mỹ, chúng tôi đã đăng ký kết hôn tại Mỹ. Nay, vợ chồng tôi về Việt Nam cư trú thì có cần phải đăng ký kết hôn lại theo quy định của Việt Nam hay không? Nếu không, làm thế nào để chứng minh quan hệ hôn nhân của vợ chồng tôi là hợp pháp và được công nhận tại Việt Nam?
.png)





