ĐẤT ĐƯỢC MUA TỪ TIỀN TẶNG CHO RIÊNG CÓ PHẢI LÀ TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG KHÔNG?

Ba mẹ cho tôi 2 tỷ để mua đất, vợ chồng tôi đã thống nhất đây là tài sản riêng của tôi và có trao đổi qua tin nhắn trước khi mua. Sau đó, chúng tôi xây nhà 3 tầng trên mảnh đất này. Khi ly hôn, chồng tôi yêu cầu chia đôi nhà và đất, cho rằng đó là tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Vậy tôi có bắt buộc phải chia không?

*Luật sư trả lời:

Khi còn chung sống hạnh phúc, vợ chồng thường không mấy để ý đến vấn đề tài sản; nhưng khi phát sinh mâu thuẫn và ly hôn, câu chuyện tài sản chung, tài sản riêng sẽ được đặt ra; nhiều trường hợp, đó là vấn đề quan trọng khiến cho việc ly hôn trở nên phức tạp và mất thời gian nếu đôi bên xung đột trầm trọng. Sẽ rất dễ dàng, tiết kiệm được nhiều thời gian và chi phí nếu các bên có thể tự thỏa thuận được với nhau để giải quyết vấn đề này. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết.

Theo thông tin chị H. cung cấp, mảnh đất mà vợ chồng chị xây dựng nhà là tài sản mà chị mua từ số tiền 2 tỷ ba mẹ chị cho chị sau khi kết hôn. Như vậy, mảnh đất này là tài sản riêng của chị hay là tài sản chung của vợ chồng chị?

 

Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng như sau.

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Theo các quy định vừa nêu, mặc dù mảnh đất là tài sản chị H. mua sau khi kết hôn nhưng đó là tài sản được mua từ số tiền chị được ba mẹ cho riêng, vợ chồng chị cũng đã thống nhất đây là tài sản riêng của chị H. và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên một mình chị H. Như vậy, mảnh đất này được hình thành từ tài sản riêng của chị H., chính là số tiền chị H. được ba mẹ tặng cho riêng, do đó đây là tài sản riêng, không phải tài sản chung của vợ chồng. Theo đó, chị không phải chia mảnh đất này với chồng chị khi ly hôn.

Đối với căn nhà 3 tầng mà vợ chồng chị H. xây dựng trên mảnh đất đó, đây là tài sản do cả hai vợ chồng chị H. cùng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Theo khoản 1 Điều 33 vừa nêu trên, có thể xác định đây là tài sản chung của vợ chồng chị H. Đã là tài sản chung của vợ chồng thì khi ly hôn, một trong hai bên có quyền yêu cầu chia; các bên có thể tự thỏa thuận tỷ lệ phân chia tài sản. Nếu chị H. và chồng không thoả thuận được việc chia tài sản chung này thì một trong hai bên có quyền yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết việc phân chia tài sản chung. Tòa án sẽ căn cứ theo các quy định pháp luật về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn và theo tình hình thực tế để phân chia tài sản chung của vợ chồng chị H.

Tuy nhiên, chị H. lưu ý, chị có nghĩa vụ chứng minh mảnh đất là tài sản riêng của chị, bằng cách cung cấp cho Tòa án những tài liệu, chứng cứ để làm rõ việc mảnh đất được mua bằng khoản tiền được ba mẹ tặng cho riêng và vợ chồng chị cũng đã thống nhất đây là tài sản riêng của chị.

Như vậy, từ các quy định pháp luật và thông tin chị H. cung cấp như trên, trường hợp này mảnh đất có thể được xem là tài sản riêng của chị H., còn căn nhà xây dựng trên mảnh đất đó là tài sản chung của vợ chồng chị H. được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Chồng chị H. chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung là căn nhà.

 

Tin tức liên quan

CHỒNG CŨ GIẤU GIẤY TỜ NHÀ ĐẤT, LÀM SAO ĐỂ YÊU CẦU CHIA TÀI SẢN SAU KHI LY HÔN?

CHỒNG CŨ GIẤU GIẤY TỜ NHÀ ĐẤT, LÀM SAO ĐỂ YÊU CẦU CHIA TÀI SẢN SAU KHI LY HÔN?

*Bạn đọc hỏi: Chị Trương Mỹ H. trú tại Điện Bàn hỏi: Tôi và chồng cũ kết hôn vào tháng 6/2015, ly hôn vào tháng 10/2024, khi thực hiện thủ tục ly hôn tại Tòa án, chúng tôi chỉ yêu cầu Tòa giải quyết về quan hệ hôn nhân và con cái, ngoài ra, không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản chung. Thời gian đầu sau ly hôn, chồng cũ vẫn đều đặn chuyển tiền cấp dưỡng để tôi nuôi hai con, nhưng từ đầu năm 2025 đến nay, tôi đã nhiều lần liên hệ yêu cầu chuyển tiền cấp dưỡng nhưng chồng cũ thường xuyên hứa hẹn mà không chuyển tiền. Trong quá trình chung sống, chúng tôi đã dành dụm mua đất và xây được một căn nhà 03 tầng vào năm 2020, giấy tờ nhà đất đứng tên hai vợ chồng. Sau ly hôn, chồng cũ vẫn sống tại căn nhà này, tôi và các con dọn về nhà ngoại sống. Để đảm bảo quyền lợi của mình và các con, tôi mong muốn được phân chia tài sản là căn nhà chung này, tuy nhiên tôi hiện không giữ giấy tờ nào liên quan đến tài sản chung, tôi có yêu cầu chồng cũ cung cấp nhưng chồng cũ không đồng ý. Xin hỏi Luật sư, tôi có thể yêu cầu Tòa án chia tài sản chung là căn nhà này khi tôi không giữ giấy tờ đất không?

CÓ ĐƯỢC LẬP THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN TRƯỚC KHI KẾT HÔN?

CÓ ĐƯỢC LẬP THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN TRƯỚC KHI KẾT HÔN?

(LSVN) - Tôi sắp kết hôn và được khuyên là nên ký thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn để tránh rắc rối về sau, nếu chẳng may có mâu thuẫn. Tôi băn khoăn không biết như vậy có được pháp luật công nhận không, có cần công chứng hay không, và sau khi kết hôn có thể thay đổi nội dung thỏa thuận đó không? Chị Lan trú tại TP. Hồ Chí Minh hỏi.

ĐÃ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Ở NƯỚC NGOÀI, CÓ PHẢI ĐĂNG KÝ KẾT HÔN LẠI Ở VIỆT NAM KHÔNG?

ĐÃ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Ở NƯỚC NGOÀI, CÓ PHẢI ĐĂNG KÝ KẾT HÔN LẠI Ở VIỆT NAM KHÔNG?

*Bạn đọc hỏi: chị Phương, trú tại H.Hòa Vang (TP Đà Nẵng), hỏi: Tôi và chồng hiện đang sinh sinh sống tại Mỹ, tôi có quốc tịch Việt Nam, chồng tôi có quốc tịch Mỹ, chúng tôi đã đăng ký kết hôn tại Mỹ. Nay, vợ chồng tôi về Việt Nam cư trú thì có cần phải đăng ký kết hôn lại theo quy định của Việt Nam hay không? Nếu không, làm thế nào để chứng minh quan hệ hôn nhân của vợ chồng tôi là hợp pháp và được công nhận tại Việt Nam?

Zalo